Ba năm bình thản và bức tranh lập đông tại Từ Cung Lãnh
Thời gian thấm thoát thoi đưa tựa như bóng tuấn mã qua khe cửa hẹp. Kể từ cái đêm giờ Tý kinh hoàng của ba năm về trước, khi lòng đại từ đại bi của Phật pháp cùng sự sám hối chân thành của Quan huyện Hoàng đại nhân hóa giải thành công oán niệm trăm năm của nàng Thẩm Nhã Yên, tòa lâu đài cổ Từ Cung Lãnh đã thực sự rũ bỏ được lớp áo tang tóc, u ám cũ. Ba mùa sương tuyết Vân Nam đi qua là ba năm dòng họ Hoàng được sống trong cảnh hanh thông, an lạc. Địa mạch của vùng đồi cao phía bắc phủ thành sau khi được Thầy Tuệ Minh dùng tích trượng bách tuế định vị lại phong thủy, nay đã phục hồi sinh khí vương giả. Những rặng thông già bao bọc xung quanh lâu đài không còn phát ra tiếng gào thét ma quái của quỷ dữ nữa, mà reo vang vi vu đón gió ngàn, tựa như những bản nhạc thanh bình che chở cho cuộc sống của con người trần thế.
Hôm nay lại là một ngày lập đông. Bầu trời Vân Nam từ buổi xế chiều đã giăng đầy những dải mây màu xám chì nặng trĩu. Cái lạnh hanh hao của núi cao lướt qua các khe đá cổ kính của tòa lâu đài, thổi bay những chiếc lá khô cuối cùng còn sót lại trên sân gạch đại sảnh. Bên trong khuôn viên lâu đài, nhịp sống diễn ra vô cùng bình thản và ấm áp. Hệ thống đèn lồng đỏ được thắp sáng trưng dọc theo các dãy hành lang, hắt ánh sáng vàng rực rỡ lên những bức tường đá xám, xua tan cái lạnh giá của thời tiết. Hai người hầu cận năm xưa từng thập tử nhất sinh, nay đã hoàn toàn khỏe mạnh, đang nhanh nhẹn gánh củi than chuẩn bị cho các lò sưởi trong phủ.
Tại hậu viện, Huyện thái phu nhân đang cùng cô cháu gái Hoàng Tuyết Mai ngồi thêu thùa bên cửa sổ. Ba năm trôi qua, Tuyết Mai giờ đây đã là một thiếu nữ hai mươi ba tuổi, dung mạo càng thêm phần thướt tha, kiều diễm nhưng nét sợ hãi, nhút nhát ngày trước đã được thay thế bằng sự điềm đạm, chín chắn.
Tuyết Mai khẽ dừng đường kim mũi chỉ, nhìn ra khoảng sân đang dần bị màn sương tối bao phủ, khẽ mỉm cười nói với tổ mẫu:
– Tổ mẫu ơi, thời gian trôi nhanh thật đấy. Mới đó mà đã ba năm kể từ ngày Thầy Tuệ Minh cứu mạng gia đình ta. Từ đó đến nay, mật viện phía sau không còn một tiếng động lạ, lòng con cũng thấy bình yên lạ thường. Chỉ tiếc là Thầy Tuệ Minh sau chuyến hạ sơn ấy lại tiếp tục khóa cửa nhập định tu hành trên đỉnh thiền tự, không biết khi nào chúng con mới có cơ duyên được bái kiến thầy lần nữa.
Huyện thái phu nhân dừng tràng hạt đàn hương, ánh mắt hiền từ nhìn cháu gái, giọng nói chậm rãi đầy chiêm nghiệm:
– A Di Đà Phật! Ơn đức của Phật gia rộng lớn như biển trời, chúng ta không được phép lãng quên. Hoàng gia ta ba năm qua có được sự hanh thông này, chính là nhờ ánh sáng chính định của thầy để lại. Đời người như dòng sông, lúc phẳng lặng lúc phong ba, chỉ cần tâm ta luôn hướng thiện, kính ngưỡng thần Phật thì quản chi nghịch cảnh.
Vị đạo sĩ lỡ đường và nghi thức tiếp đón trọng thể của Hoàng gia
Khi bóng tối hoàn toàn bao trùm lấy rừng thông, sương mù dày đặc tràn vào bệ đá cổng thành, tiếng chuông đồng đại sảnh vừa buông sáu tiếng thì từ phía cánh cổng sắt vang lên tiếng gõ dồn dập. Một lính thị vệ hớt hải chạy vào báo cáo với Quan huyện Hoàng đại nhân lúc này vừa từ công đường trở về phủ:
– Bạch Đại nhân! Ngoài cổng có một vị Đạo sĩ phương xa mặc áo bào thắt đai, tay cầm phất trần, xưng là đi lỡ đường giữa bão tuyết đông Vân Nam, muốn xin được vào lâu đài tá túc qua đêm. Xin Đại nhân định đoạt!
Quan huyện Hoàng đại nhân nghe báo, khẽ vuốt chòm râu phong sương, nét mặt thoáng hiện sự suy nghĩ. Triều đình hiện triều vốn dĩ vô cùng coi trọng hai nhà Phật giáo và Đạo giáo, xem đây là hai trụ cột tâm linh để an định lòng dân, giáo hóa vương pháp. Hoàng đại nhân lại là bậc quan phụ mẫu chính trực, thanh liêm, xưa nay chưa từng từ chối giúp đỡ kẻ lỡ đường, huống chi đây lại là một bậc tu sĩ của Huyền môn.
Ông lập tức đứng dậy, vạt áo quan phục thêu chỉ bạc khẽ động, nghiêm giọng truyền lệnh:
– Mau mở cổng thành! Mời vị Đạo trưởng vào đại sảnh. Sai gia nhân chuẩn bị trà nóng, đun thêm than củi và sửa soạn một bàn tiệc rượu chay để ta đích thân tiếp đón. Không được chậm trễ, làm mất đi thể thống tôn trọng tu sĩ của triều đình!
Chỉ một lát sau, cánh cổng sắt nặng nề mở ra, vị Đạo sĩ bước vào đại sảnh giữa luồng sương lạnh. Vị Đạo sĩ này pháp hiệu là Huyền Cơ. Người này trạc tuổi ngũ tuần, thân hình gầy gò nhưng quắc thước, mặc một bộ đạo bào màu xanh rêu thêu hình lưỡng nghi bát quái bằng chỉ đen ẩn hiện. Tay lão cầm một chiếc phất trần làm bằng lông ngựa trắng, thắt lưng đeo một chiếc hồ lô đồng nhỏ và một thanh kiếm gỗ đào cũ kỹ.
Dung mạo của Huyền Cơ đạo sĩ mang một vẻ tiên phong đạo cốt, râu dài chấm ngực, đôi mắt sắc sảo hẹp dài luôn khẽ nheo lại. Thế nhưng, nếu nhìn kỹ sâu vào đáy mắt lão, thỉnh thoảng lại lóe lên những tia sáng lạnh lẽo, âm u – thứ ánh sáng của một kẻ quanh năm bầu bạn với tà thuật, mật pháp hắc ám chứ không phải bậc chân tu thanh tịnh của chính đạo Tiên gia.
Hoàng đại nhân bước tới, hai tay chấp tay hành lễ theo nghi thức triều đình đối với tu sĩ:
– Bản quan Hoàng Quốc An, kính chào Đạo trưởng phương xa. Đêm đông Vân Nam gió tuyết khắc nghiệt, lâu đài Từ Cung Lãnh của bản quan tuy đơn sơ nhưng rất vinh hạnh được đón tiếp Đạo trưởng ghé chân tá túc. Mời Đạo trưởng ngồi bên bếp sưởi dùng chén rượu nhạt cho ấm người.
Huyền Cơ đạo sĩ khẽ phất chiếc phất trần, một tay bấm ấn chào đáp lễ, giọng nói của lão khàn khàn nhưng vang vọng, mang theo một thứ lực lượng kỳ dị:
– Vô Lượng Thọ Phật! Bần đạo Huyền Cơ, chu du thiên hạ, tìm kiếm linh địa để tu luyện mật pháp. Hôm nay đi qua vùng đồi cao này thì gặp bão tuyết che lối, may mắn thấy ánh đèn lồng của tòa lâu đài đại nhân nên mạo muội vào xin tá túc. Sự tiếp đón trọng thể của Hoàng đại nhân thật khiến bần đạo cảm kích khôn cùng. Đúng là danh bất hư truyền về một vị quan thanh liêm của phủ thành!
Bữa tiệc bang giao và sự bố trí căn phòng trung tâm lâu đài
Bữa tiệc rượu chay nhanh chóng được dọn ra giữa đại sảnh lâu đài với đầy đủ các món sản vật mùa đông của vùng Vân Nam. Hoàng Thiên Phong – chàng trai khôi ngô tuấn tú của ba năm trước nay đã là một phó tướng dũng mãnh của quân thành – cũng có mặt tham gia tiếp kiến. Suốt buổi tiệc, Huyền Cơ đạo sĩ tỏ ra là một người vô cùng uyên bác, lão thao thao bất tuyệt kể về những chuyến đi trừ tà, xem phong thủy ở các tỉnh miền bắc, khiến Quan huyện và Thiên Phong không khỏi gật đầu tán thưởng.
Thế nhưng, không ai chú ý rằng, trong lúc trò chuyện, ánh mắt hẹp dài của Huyền Cơ đạo sĩ liên tục quét qua những cột đá khổng lồ và các góc khuất của lâu đài. Lão thầm kinh ngạc và thích thú khi cảm nhận được rằng, sâu bên dưới lớp cấu trúc đá xám của tòa lâu đài này, tuy khí dương đang vượng, nhưng vẫn tồn tại nhiều luồng tà khí cổ xưa vô cùng đặc quánh. Đối với một kẻ mật luyện tà thuật như lão, thứ tà khí này chính là thần dược, là báu vật vô giá để lão gia tăng tu vi hắc ám của mình. Lòng tham và tà tâm của vị đạo sĩ bắt đầu trỗi dậy dữ dội phía sau chiếc mặt nạ tiên phong đạo cốt.
Cuối buổi tiệc, khi màn đêm đã về khuya, Quan huyện Hoàng đại nhân đứng dậy, quay sang bảo gia nhân:
– Đêm đã muộn, Đạo trưởng đường xa mỏi mệt. Hãy dẫn Đạo trưởng về căn phòng khách VIP nằm ở khu vực chính giữa lâu đài để nghỉ ngơi. Nơi đó có lò sưởi bằng đá lớn nhất, phong thủy ấm áp, đảm bảo cho Đạo trưởng một giấc ngủ an lành.
Huyền Cơ đạo sĩ khẽ cúi đầu, bàn tay giấu trong vạt áo đạo bào khẽ siết chặt chiếc hồ lô đồng, nụ cười ẩn ý hiện trên môi:
– Đa tạ sự chu đáo của Đại nhân. Bần đạo xin phép cáo lui về phòng. Chúc Đại nhân và gia quyến một đêm bình an.
Khi bước theo người hầu tiến về căn phòng ở trung tâm lâu đài, Huyền Cơ đạo sĩ khẽ quay đầu nhìn lại khoảng tối dẫn ra phía sau hậu viện. Lão khẽ liếm môi, lẩm bẩm một mình trong bóng tối: "Tòa lâu đài này... oán khí tầng tầng lớp lớp, phong thủy hắc ám cuồn cuộn dưới lòng đất. Hoàng gia các người thật may mắn khi sống sót qua ba năm qua. Nhưng đêm nay, để xem bần đạo có thể khai quật được bí mật gì dưới nền đá này không..."

