NGÔI NHÀ MA ÁM KINH HỒN KHIẾN 7 NGƯỜI MẤT MẠNG BÍ HIỂM Ở BẮC GIANG

Huang
0


Ở thôn Xuân Biều (xã Xuân Cẩm, Hiệp Hòa, Bắc Giang), có một ngôi nhà, mà nhắc đến, người dân cả huyện Hiệp Hòa đều biết và đồn đại những chuyện rợn người. Hai gia đình đã sinh sống ở ngôi nhà đó và kết cục đều nhận cái chết thảm khốc. Thậm chí, có người sợ hãi, bỏ nhà trốn đi, vẫn không thoát kiếp nạn, vẫn bị “vật” chết một cách bí ẩn.
Đào đất phạm long mạch, 3 người trong gia đình lập thổ dựng nhà mất mạng kỳ bí
Ngôi nhà kinh dị
Đến đầu thôn Xuân Biều, hỏi về ông Nguyễn Văn Minh, một số người dân đều lảng đi. Cùng làng với nhau, ai chẳng biết nhà nhau, thế nhưng, nhìn ánh mặt họ, tỏ rõ vẻ sợ hãi tột độ. Họ không muốn nhắc gì đến cái chuyện mà họ nghĩ rằng, sẽ dễ bị “ám”. Đến giữa làng, khi hỏi thăm, mấy bà xúm xít vào “buôn” một tràng, rồi mới chỉ đường tường tận. Đi vòng vèo đến cuối làng, ra đến cánh đồng, sát đê sông Cầu, thì hiện ra trước mặt một ngôi nhà tan hoang, trên doi đất rìa làng. Cạnh doi đất ấy, là cái ao rất lớn, nhưng bèo chen chúc kín mít. Giữa ao, có một mô đất, với ngôi nhà hoang. Không hiểu vì sao lại xây một ngôi nhà giữa cái ao bèo hoang thế, rồi không ở.


Tôi cùng nhà tâm linh Lê Thái Bình đi vòng quanh khu đất, tịnh không thấy có bóng người qua lại. Một cảm giác rờn rợn chạy dọc sống lưng. Tiếng con chim lạ thi thoảng lại rít lên từ bụi tre bên ao bèo hoang. Mãi sau, một bà cụ gánh rau đi từ đê xuống, qua bờ ao đấy. Tôi giữ lại hỏi chuyện cụ. Bà cụ tên là Nguyễn Thị Chắt, người trong làng Xuân Biều. Tôi hỏi: “Bà có biết vì sao cái ao rộng đến cả chục mẫu thế này, không nuôi cá mà lại để bèo mọc hoang thế này không ạ?”. Bà Chắt bảo: “Cái ao này của thằng cháu tôi, là công an xã, nó đấu thầu mấy năm trước. Thế nhưng, khi nhà ông Minh chết hàng loạt, thầy bói bảo do động long mạch, nên nó cũng sợ hãi, không nuôi cá mú gì nữa, cứ để cái ao hoang như vậy. Trước nó cũng tôn tạo ao, đắp cả hòn đảo giữa ao và xây nhà để trông cá. Thế nhưng, ông Minh chết rồi, nó cũng bỏ luôn. Mọi người sợ lắm, không ai dám động vào đất cát quanh khu vực nhà ông Minh này đâu”. Tôi hỏi đến chuyện gia cảnh ông Minh, cụ bà tỏ vẻ sợ hãi, quẩy quang gánh đi mất hút vào làng.


Nhà tâm linh Lê Thái Bình (chủ nhiệm câu lạc bộ Thiền Việt, thuộc Viện nghiên cứu tiềm năng con người) là chàng trai trẻ tuổi, không sợ ma quỷ gì cả, nên anh bỏ ngoài tai lời dọa dẫm của mọi người, đi vào khu đất có ngôi nhà ma ám ấy. Lê Thái Bình vốn là chàng trai đất Cảng, từng tốt nghiệp Đại học Mỏ - Địa chất. Thế nhưng, cơ duyên kỳ bí, nên anh phải làm việc liên quan đến phần âm. Anh kể, hồi đang làm phó giám đốc một công ty cổ phần, một ngày, như thể có ai sai khiến, anh cứ thế đi về Thái Bình, vùng ven biển và đến một nhà cụ ông đã ngoài 80 tuổi. Vừa gặp, cụ ông này đã reo lên: “Vậy là cậu đến rồi!”. Anh Bình rất đỗi kinh ngạc. Anh không hiểu vì sao mình lại đi tìm gặp một cụ già lạ hoắc như thế và cụ già thì bảo đã chờ anh mấy chục năm nay. Hóa ra, cụ già nọ là thầy pháp, xưa gọi là thầy phù thủy. Cụ không truyền được nghề cho bất kỳ ai trong mấy người con. Và người học trò tiếp theo, mà “trời định” chính là Lê Thái Bình. Rồi cũng như trời định, bao nhiêu năm nay, Lê Thái Bình phải làm một công việc kỳ lạ, ấy là đi dạy thiền miễn phí cho nhân dân cả nước. Anh thành lập các lớp dạy thiền, để trị những bệnh liên quan đến tâm lý, tâm linh cho người dân khắp nơi. Đó là công việc mà Lê Thái Bình buộc phải làm, theo căn số, mà “giời định” cho anh. Theo Bình, những người làm thầy pháp, thì không bao giờ sợ ma quỷ, nên dù đất dữ thế nào, dù có ma quỷ, anh cũng không sợ hãi.
Nhà tâm linh Lê Thái Bình đứng bên bờ cái ao bèo lớn chỉ tay vạch hướng đông tây rồi nói: “Chỗ bên kia bờ ao, có ngôi đình làng, chính là phần đầu con rồng. Các cụ xưa rất giỏi về phong thủy và long mạch, thường chọn đúng vị trí đầu rồng đề dựng đình. Còn mảnh đất mà gia đình ông Minh ở, chính là họng con rồng. Mảnh đất này vốn rất tốt, nhiều dương khí, nhưng do các gia đình sống ở đất này đào sâu xuống lòng đất, phá vỡ long mạch, nên phải nhận kết cục thảm khốc”.
Tôi tiến vào khu nhà hoang. Không có cổng rả gì cả. Giếng nước chơ vơ trước nhà, nước nhiều ăm ắp, nhưng cỏ mọc trùm kín thành giếng. Nhà tâm linh Lê Thái Bình bảo rằng, chính cái giếng này là bắt nguồn của mọi tai họa, chứ không phải do phá đền miếu, mặc dù, chưa hỏi ai, anh Bình đã biết trên mảnh đất này vốn có một ngôi đền và sau đó là ngôi miếu nhỏ, nhưng đền đã bị làng đập và miếu cũng bị gia chủ đã đập nốt. Theo Lê Thái Bình, mảnh đất này vốn là nghĩa địa, có nhiều xác chết, nhưng long mạch đẹp, nên đất vẫn có nhiều dương khí. Chính vì không phải do phá đền, phá miếu, nên dù gia chủ đã xây lại miếu, thì đại họa chết người vẫn liên tục xảy ra. Ngoài việc đào giếng, thì gia chủ còn đào những cái ao sâu hoắm lấy đất đóng gạch.
Tôi cùng nhà tâm linh Lê Thái Bình trèo qua cửa sổ, vào ngôi nhà. Cảnh tượng hoang tàn khiến tôi dựng cả tóc gáy, nổi da gà. Một gian nhà vừa mới đổ sập, ngói gạch chồng lên nhau. Bên trong gian chính chỉ có chiếc bàn thờ lạnh lẽo, không có khói hương gì cả. Có lẽ, vài năm qua, không có ai bước chân vào bên trong ngôi nhà này. Nhà tâm linh Lê Thái Bình khấn trước bài thờ, nhắm mắt cảm nhận, rồi vòng ra ngôi miếu trước nhà, ngay dưới gốc cây mít. Xem xét một lát, rồi chúng tôi rời khỏi ngôi nhà, tìm đến những gia đình sống phía sau.
Đào đất mất mạng
Ngay phía sau ngôi nhà hoang tàn đổ nát cùng lời đồn ma ám rùng rợn, là ngôi nhà ngói kiểu cổ của vợ chồng bà Nguyễn Thị Gái và ông Tạ Văn Hìu. Hôm nay, ông Hìu đi họp ngoài đình, chỉ có bà Gái ở nhà. Vừa nhìn thấy cụ bà còng lưng, nhỏ thó, nhà tâm linh Lê Thái Bình đã bảo: “Đất nhà cụ nặng âm khí lắm. Nhà mới có tang phải không cụ?”. Nghe anh Bình nói thế, cụ Gái cố rướn người đứng thẳng dậy, giọng nghèn nghẹn. Hóa ra, căn nhà này vốn có vợ chồng cụ cùng người con trai út sinh sống. Hai cụ đã ngoài 80 tuổi. Người con trai ấy là trụ cột. Cụ Gái kể rằng, người con trai cụ vốn chịu khó, giỏi giang, nên học hành tử tế, rồi công tác trong ngành cầu đường. Anh đi suốt, thi thoảng mới về thăm nhà. Thế nhưng, cách đây mới mấy tháng, anh đột ngột chết không rõ nguyên do khi về thăm bố mẹ. Mọi người chỉ bảo rằng, anh chết vì cảm. Cái chết của anh khiến ông bà quá đau buồn và cũng khiến xóm làng sợ hãi, dấy lên lời đồn mảnh đất gia đình bà ở nằm cạnh mảnh đất ma ám của gia đình ông Minh, nên cũng bị “bắt” đi.
Pha ấm trà nóng, cụ Gái bắt đầu câu chuyện rùng rợn, về gia đình chủ đầu tiên sống ở mảnh đất này. Vào năm 1971, khi vỡ đê, lụt lội toàn bộ miền Bắc, vợ chồng bà chuyển vào mảnh đất cuối làng Xuân Biều ở. Dựng nhà ở được mấy năm, đến năm 1976, thì vợ chồng ông Tạ Văn Khanh tìm đến san đất, lập vườn. Khu đất này vốn cao ráo, trông như một cái gò. Hồi chiến tranh, bộ đội ở đây nhiều, còn kéo cả pháo đến, bảo vệ bầu trời Bắc Ninh, cùng sân bay Nội Bài cách đó không xa. Cũng theo bà Gái, có khá nhiều bộ đội hi sinh, chôn cất ở quanh khu vực. Gò đất nơi gia đình ông Khanh đến ở cũng có nhiều mồ mả hoang, mà người xưa chôn vùi qua loa, chứ không xây mộ kiên cố như bây giờ. Những người chết đuối trôi nổi ở sông Cầu, mắc vào đoạn sông này, người dân trong làng cũng vớt lên, rồi chôn vùi quanh đó. Chính vì thế, mảnh đất này khá u ám, ít người dám qua lại, chứ đừng nói đến chuyện ra đó ở, sinh cư.
Ông Tạ Văn Khanh vốn là người Nghệ An, làm công nhân ở khu gang thép. Ông Khanh lấy vợ là bà Phụng, là người trong làng Xuân Biều. Nhà bà Phụng ít đất, thấy gò đất ngoài rìa làng để hoang, nên đã xin làng để dựng nhà ra đó ở. Khoảng năm 1980, là cán bộ nhà nước, được phân phối gạch, ngói, nên vợ chồng ông Khanh đã dựng một ngôi nhà ngói 3 gian trên chỏm đất cao nhất. Vợ chồng ông Khanh có với nhau được 5 người con, gồm 4 gái, 1 trai.
Cuộc sống yên bình trôi qua, những người con của vợ chồng ông Khanh khôn lớn, được học hành đầy đủ. Thế nhưng, theo lời đồn của dân làng, tai họa bắt đầu từ khi ông Khanh đào cái giếng trước nhà để lấy nước dùng. Xưa kia, người dân toàn lấy nước ở giếng đình, thậm chí múc nước ở ao và sông Cầu để ăn. Nhưng môi trường dần ô nhiễm, nên không dùng được nước tự nhiên nữa, phải đào giếng để lấy nước. Theo lời ông Khanh kể với hàng xóm, hôm đào xong giếng, chưa dùng nước giếng khơi lần nào, thì ngay đêm ấy, ông Khanh gặp giấc mơ quái lạ, khiến ông rơi vào trạng thái bị trầm cảm nặng. Trong giấc mơ, ông thấy rõ mồn một người đàn ông râu tóc bạc trắng, đi ra từ ngôi miếu nhỏ dưới gốc mít. Cụ già râu tọc bạc phơ nói trong mơ, mà ông Khanh nhớ từng chữ: “Con đã phá cùm thả hổ ra rồi. Con và gia đình sẽ bị hổ bắt đi thôi. Không có cách nào thoát được đâu”. Ông cụ nói xong, thì đi về phía bụi rậm, rồi đột nhiên biến thành con hổ trắng, có những vết vằn vàng quanh thân và biến mất hút chỗ bụi dây leo mọc trùm cây hương. Đúng lúc đó thì ông Khanh tỉnh dậy. Mọi sự đều rõ ràng như thật trước mắt. Giấc mơ này, ông kể đi kể lại với mọi người trong xóm.
Theo lời các cụ, trước đây, ở gò đất này vốn có một ngôi đền to. Ở đầu làng Xuân Biều cũng có một ngôi đền nữa. Tuy nhiên, thời trước, chống mê tín dị đoan, nên làng đã phá dỡ đền, lấy gỗ đóng đồ, lấy mặt bằng sản xuất. Tuy nhiên, đền phá xong, dân làng gặp nhiều chuyện rủi, lại có nhiều lời đồn hãi hùng, nên không ai dám san gạt mảnh đất khu vực từng có ngôi đền này làm ruộng, sinh cơ. Các cụ già đi xem bói, nhiều thầy phán phải dựng lại đền. Tuy nhiên, thời điểm đó kinh tế khó khăn, nên dân làng chỉ dựng lại cây hương sơ sài trên nền đất cũ. Khi đó, dưới gốc mít trước nhà ông Khanh chỉ có ngôi miếu nhỏ xíu, rộng độ 1 mét vuông, được xây quây bằng mấy viên gạch, lợp bằng ngói mũi. Trong cây hương chỉ có mỗi bát hương. Dân làng vẫn ra cây hương và gốc mít để cúng trong những ngày rằm, mùng một.
Ngay sau hôm gặp giấc mơ lạ, ông Khanh đổ bệnh, nằm liệt trong nhà. Gia đình đã đưa ông đi khắp các bệnh viện, cả ở Bắc Ninh lẫn Hà Nội, song tuyệt nhiên không tìm ra bệnh gì. Cơ thể ông cứ héo dần, xơ xác.
Nghĩ do vấn đề tâm linh, nên gia đình đã mời thầy cúng, thầy bói khắp nơi. Mỗi thầy phán một kiểu. Có người bảo do sống trên nền ngôi đền cũ, xâm phạm vào đất của thần, nên không chết thảm khốc mới là chuyện lạ. Có thầy phán chỗ đó là long mạch của làng, nên xâm phạm long mạch chẳng chóng thì chầy cũng sẽ chết. Tuy nhiên, một ông thầy pháp đi qua làng, khi đi trên đê, đã rẽ xuống nhà ông Khanh. Ông thầy này bảo rằng: “Mảnh đất này theo phong thủy là miệng con hổ. Trước đây, các cụ đã xây đền trấn yểm, nhốt con hổ, nhưng dân làng lại phá đền, chả khác nào thả nó ra. Gia chủ lại đào giếng, phá luôn cả cùm, nên nó đớp chết cả nhà cũng là điều dễ hiểu”. Gia đình ông Khanh nghe ông thầy pháp lạ này phán thế, dù chả có cơ sở gì, nhưng mà vẫn hãi lắm, cứ xin xỏ nhờ ông giúp. Tuy nhiên, ông thầy pháp này lắc đầu bảo không giúp được. Ông thầy pháp nọ dọa: “Oan hồn con hổ không chỉ bắt mình ông Khanh, mà còn bắt nhiều người nữa. Chỉ khi nào có thầy pháp cao tay, nhốt được nó lại, thì mới yên ổn sống. Tôi tài hèn sức mọn, nên không có cách nào giúp được đâu. Nếu tôi can thiệp, thì tôi cũng mất mạng”. Nói rồi, ông thầy pháp lạ lùng này bỏ đi mất, không có cách nào giữ lại được.
Sau khi ông thầy pháp bí ẩn kia đưa ra lời phán khiến mọi người thất kinh, đại gia đình ông Tạ Văn Khanh đi khắp nơi tìm thầy pháp giỏi, nhằm tìm cách trấn yểm mảnh đất. Một số thầy pháp từ chối ngay khi vợ con ông Khanh đến gặp. Chỉ có một ông thầy pháp, ở tận Hà Tây (cũ) nhận lời, tìm lên giúp gia đình ông. Ông thầy cúng này đã lập đàn, cờ phướn treo khắp nơi, cúng bái suốt một ngày đêm ở ngôi miếu trước nhà. Cúng xong, ông này bảo đã trấn yểm được hổ thần, không sợ hổ thần bắt nữa, gia đình cứ an tâm sinh sống.
Thế nhưng, điều kinh dị đã xảy ra, ngay sau khi ông thầy pháp này rời đi. Suốt mấy ngày trời, ông Khanh đau đớn la hét. Đêm xuống, ống miệng ông cứ phát ra tiếng gầm gừ như loài hổ. Thế rồi, ông qua đời một cách bí ẩn. Đến lúc ông mất, gia đình vẫn không biết ông bị bệnh gì. Chỉ biết rằng, ông cứ đau yếu, héo hon, thi thoảng như mất trí mà phát ra âm thanh lạ lùng. Năm ông Khanh mất, ông vừa tròn 60 tuổi.
Trốn khỏi làng vẫn chết
Sau khi ông Tạ Văn Khanh qua đời, vợ con tiếp tục mời thầy cúng khắp nơi đến. Tuy nhiên, thầy cúng nào đến mảnh đất này cũng sợ hãi mà từ chối. Nhiều thầy cúng còn bảo, tất cả những người đàn ông trong nhà sẽ bị bắt đi. Những người con gái thì sẽ không bị bắt. Vợ chồng ông Khanh chỉ có mỗi người con trai, nên nếu bị “bắt”, thì sẽ tuyệt tự. Lo sợ điều đó, nên bà Phụng, vợ ông Khanh, đã gửi con gái đi ở nhà người thân, còn bà cùng người con trai trốn vào miền Nam với suy nghĩ đi càng xa càng tốt, nhằm trốn… hổ thần. Bà Phụng đã bán mảnh đất, ngôi nhà cùng toàn bộ gia sản cho ông Nguyễn Văn Minh, là người trong làng, với giá rẻ mạt, chỉ đủ tiền vé xe và sinh sống một thời gian trong Nam.
Tuy nhiên, những thông tin hãi hùng, kinh dị liên tiếp đổ về ngôi làng nằm thoi loi giữa cánh đồng, bên bờ đê sông Cầu. Vào Tây Ninh lập nghiệp chưa được bao lâu, bà Phụng đã chết một cách bí ẩn. Đích thân người con trai đã phải mai táng bà ở trong đó, chứ không dám đưa bà ra ngoài này. Một số người làng đồn rằng, mặc dù vào trong Nam ở, nhưng hàng đêm bà Phụng vẫn gặp những giấc mộng kinh dị. Bà luôn mơ thấy 5 con hổ xấu xé, ăn thịt mình. Các cụ già ở làng Xuân Biều cũng bảo rằng, xưa kia, các cụ lập ngôi đền ở mảnh đất cuối làng để thờ ngũ hổ, gồm 5 con hổ trắng. Lời đồn bà Phụng đã bị hổ thần bắt đi càng khiến làng Xuân Biều sợ hãi.
Nhưng, kinh hoàng thay, sau cái chết của bà Phụng không lâu, người con trai duy nhất của gia đình này, cũng đã qua đời vì tai nạn giao thông. Người dân trong làng không nắm rõ cái chết của anh con trai con ông Khanh bà Phụng cụ thể, mà chỉ biết, trên đường đi làm bằng xe máy, anh này đã đâm phải cột mốc và qua đời. Cái chết của anh chỉ sau cái chết kỳ lạ của mẹ có vài tháng.
Từ khi bố, mẹ, anh trai chết, 4 người con gái càng sợ hãi, không bao giờ dám quay về mảnh đất, ngôi nhà cũ. Những người con gái của ông Khanh, bà Phụng đều tứ tán khắp ngả. Người lấy chồng bên Trung Quốc, người lấy chồng ở nơi khác, không thấy về làng bao giờ. Mặc dù các thầy pháp phán rằng, chỉ những người đàn ông bị “bắt”, nhưng những người con gái của họ cũng không bao giờ dám quay lại mảnh đất kinh dị ấy nữa.
Chuyện hãi hùng xảy đến với đại gia đình ông Tạ Văn Khanh đã khép lại bởi cái chết thương tâm của người con trai duy nhất. Và, bi kịch tiếp tục mở ra với đại gia đình ông Nguyễn Văn Minh. Ngôi nhà ma ám đã cướp đi mạng sống của gần như toàn bộ đại gia đình vốn khá giả, giàu có nhất làng Xuân Biều.
Thầy cúng bỏ chạy
Nhà ông Nguyễn Văn Minh vốn ở giữa thôn Xuân Biều (Xuân Cẩm, Hiệp Hòa, Bắc Giang). Ngôi làng này đất chật, người đông, nhưng đất đai nhà ông Minh khá rộng. Vợ chồng ông Minh có nghề đóng gạch, nên cần mặt bằng ngoài cánh đồng, có nhiều đất nguyên liệu để nhào gạch. Đúng lúc đang cần mặt bằng, thì bà Phụng rao bán nhà để vào Nam. Mặc dù, lúc đó, lời đồn ma hành quỷ ám ở mảnh đất của gia đình ông Khanh kinh khủng lắm, nhưng ông Minh không sợ. Ông Minh bỏ ngoài tai những lời can ngăn của vợ, của những người trong họ và lời dọa dẫm của dân làng. Ông Minh vốn có nhiều năm ở chiến trường, từng vào sống ra chết, nên ông chẳng sợ gì. Ông không tin trên đời có thứ gọi là ma quỷ, lại vật chết được người. Mảnh đất rộng mênh mông mà bà Phụng bán với giá quá rẻ, không mua thì quá phí.
Mua được mảnh đất rồi, ông Nguyễn Văn Minh và vợ là bà Nguyễn Thị Đức, cải tạo lại nhà cửa. Vốn không sợ trời, chẳng sợ đất, càng không tin ma quỷ, nên ông Minh phá cây hương mà dân làng dựng lại trên nền ngôi đền cũ, dưới gốc mít, để lấy chỗ xây gian nhà ngang. Vị trí ngôi nhà ngang nằm giữa ngôi nhà chính với gốc mít. Ngôi nhà cũ ở giữa làng, cách nhà mới mua chỉ độ 500m, nên vợ chồng ông và 3 người con trai thích ở đâu thì ở. Ngôi nhà vốn nằm trên gò đất rất lớn, như quả đồi trồi lên khỏi làng và cánh đồng, nên rất nhiều đất. Vợ chồng, con cái ông Minh đào đất đóng gạch, ngói, rồi đốt lò, trước nhà khói tuôn tỏa ngày đêm. Vợ chồng ông Minh có nghề đóng gạch, làm ngói lâu đời, nên vốn rất khá giả. Ông Minh là cũng là cao thủ đốt lò, chưa từng hỏng lò gạch, mẻ ngói nào. Thế nhưng, điều kỳ lạ, mà ông Minh cũng thấy khó hiểu, là từ khi nhào đất, đóng gạch, đúc ngói và đốt lò ở mảnh đất mới, thì cứ lò được, lò không, lò sống, lò cháy. Làm cái gì cũng hỏng cái đó, thua lỗ liên miên. Từ một gia đình khá giả ở làng, kinh tế gia đình ông Minh mỗi ngày thêm sa sút, khó khăn chồng chất.
Cái hạn đầu tiên xảy đến với gia đình ông, là cậu con trai Nguyễn Văn Tuấn, đang là cán bộ quân đội, cấp bậc trung úy, đóng ở Thái Nguyên, tính tình bỗng trở nên kỳ quặc, nóng nảy. Trong một trận đánh nhau, bị đơn vị kỷ luật, cho ra quân.
Lúc này, vợ chồng ông Minh mới nhớ lại những lời đồn, hăm dọa của dân làng, về mảnh đất mà ông mua lại từ bà Phụng. Ông Minh cũng chợt rùng mình khi nghĩ đến những giấc mơ mà ông gặp phải. Trong mơ, ông thường thấy con hổ trắng, đứng ở ngôi miếu trước nhà. Ông thường kể với mọi người về giấc mơ ấy, và nó cũng đúng với những giấc mơ mà chủ trước, tức ông Tạ Văn Khanh gặp phải trước khi mất mạng.
Có chút rờn rợn, nên dù cứng gan lắm, ông Minh cũng phải để cho vợ rước thầy cúng về tận nhà làm lễ. Hôm làm lễ cúng khá linh đình. Ông Minh mổ một con lợn to, cắt lấy phần thủ, luộc chín, đặt lên mâm, để ông thầy cúng làm lễ ở ngôi miếu. Trong lễ cúng, một sự việc kinh hoàng xảy ra. Khi ông thầy cúng vừa chuẩn bị làm lễ, thì bỗng cứng họng, ú ớ không nói nên lời. Mãi sau, ông này mới bình thường trở lại. Ông quát mọi người: “Sao gia đình này lại đi phá cây hương thế hả? Thế này thì chết cả nhà. Tôi cũng khó sống khi cứu mọi người”. Ông thầy cúng chỉ nói vậy, rồi nhất nhất bỏ đi, không tiếp tục cúng bái nữa. Ông thầy cúng nọ cũng không nhận lễ vật, tiền công từ gia đình ông Minh.
Cái chết bí ẩn dưới ao nông
Nghe ông thầy cúng nọ nói vậy, mọi người tái mặt, sợ hãi đến mức mặt cắt không còn giọt máu. Ngay hôm sau, ông Minh cùng vợ chạy xe máy lên tận Thái Nguyên, rước ông thầy phong thủy về xem thế đất rồi. Ông thầy phong thủy nọ cúng bái, trấn yểm, rồi bảo gia đình có điều kiện thì dựng hẳn ngôi miếu, thờ phụng đàng hoàng, chứ không nên chỉ xây cây hương nhỏ. Vợ chồng ông Minh răm rắp nghe theo. Việc đầu tiên, vợ chồng ông Minh không tiếc ngôi nhà ngang vừa xây, mà đập bỏ. Sau đó, ông xây ngôi miếu ở ngay dưới gốc mít, cạnh chỗ cây hương mà ông từng đập. Lúc này, kinh tế gia đình đã kiệt quệ, nên vợ chồng ông Minh chỉ xây ngôi miếu đơn sơ, gồm 4 bức tường nhỏ, lợp tấm phibrôximăng. Bên trong miếu có ban thờ và mấy bát hương nhỏ.
Thảm kịch chết chóc đầu tiên của gia đình xảy đến với bà Nguyễn Thị Đức. Bà Nguyễn Thị Gái, nhà ngay sau mảnh đất với ngôi nhà vợ chồng ông Minh kể: “Tôi vẫn nhớ rõ, hôm ấy khoảng 6 giờ chiều, ông Minh đi đâu về nhà không thấy vợ, cứ đứng trước nhà gọi um cả lên. Đến tối thì cả nhà, cả anh em nhà bà Đức cầm đèn pin đi soi khắp nơi. Tôi thấy mọi người thắp đèn soi loang loáng ngoài cánh đồng, trên đê, rồi dọc bờ sông Cầu. Ông Minh có sang hỏi tôi, thì tôi bảo, lúc chiều thấy bà Đức lúi húi cắt cỏ ở bờ ao, vứt cho cá ăn. Tôi có nói chuyện với bà ấy mấy câu ở bờ ao. Bà ấy kể rằng, đợt này khó ngủ, đầu óc cứ lúc nhớ lúc quên, đêm thì toàn gặp ác mộng. Ngay đêm đó, tôi đã nghĩ có chuyện xấu với bà ấy rồi. Vì mấy hôm trước, thi thoảng tôi thấy bà ấy thơ thẩn ngoài bờ ao, cứ ngơ ngơ như người mất hồn. Đêm thi thoảng bà ấy tru lên như sói, nghe rất sợ. Đến gần trưa hôm sau, thấy bên nhà ông Minh ồn ào, có người khóc lóc, tôi mới biết bà Đức đã qua đời. Ngay trong đêm, thấy liềm cắt cỏ ở bờ ao, mà không thấy người đâu, nên gia đình đã xuống ao mò. Cái ao đó là do vợ chồng ông Minh đào đất đóng gạch, gói mà tạo thành. Thời điểm đó, nước khá nông, chỉ đến ngang bụng, mà đến chục người mò mãi không thấy bà ấy đâu. Phải đến gần trưa hôm sau mới mò thấy. Cái ao nông thế mà bà ấy chết đuối, rồi mò đi mò lại mới thấy cũng thật khó hiểu”.
Cái chết thảm khốc của thầy giáo
Kể về cái chết của bà Đức xong, bà Gái lộ vẻ sợ hãi, không dám kể tiếp nữa. Tôi và chuyên gia tâm linh Lê Thái Bình (Chủ nhiệm câu lạc bộ Thiền Việt, Viện nghiên cứu tiềm năng con người) tìm đến ngôi nhà cũ trong làng của ông Nguyễn Văn Minh. Ngôi nhà trông tàn tạ, tan hoang chẳng kém gì ngôi nhà bỏ hoang ngoài rìa làng. Chiếc cổng sắt hoen rỉ đóng kín. Thấy người lạ, một phụ nữ đến hỏi chuyện. Hóa ra, là bà Nguyễn Thị Tâm, cán bộ Hội Người cao tuổi thôn Xuân Biều. Bà Tâm giới thiệu là hàng xóm của ông Minh, nắm rất rõ chuyện kinh hoàng liên quan đến gia đình ông Minh. Bà bấm điện thoại gọi Tạ Thị Huệ về tiếp khách.
Tạ Thị Huệ sinh năm 1991, mới ngoài 20 tuổi, song đã thành góa phụ. Khuôn mặt, dáng dấp Huệ đều toát lên vẻ khổ hạnh. Huệ đạp chiếc xe lọc cọc, với cái thúng đằng sau. Bà Tâm bảo, hàng ngày, Huệ đi khắp đồng trên ruộng dưới mò cua, bắt ốc, đem ra chợ bán, kiếm tiền sinh sống, nuôi con. Mảnh đất rộng mênh mông, nhà chính, nhà ngang, chuồng lợn, chuồng bò bỏ hoang hoàn toàn, như thể không có người ở. Vườn rộng toàn để cỏ mọc. Một gian nhà sập mái, nhưng chủ nhà cũng không dọn dẹp gì cả. Bên trong nhà, đồ đạc phủ bụi, bàn thờ cũng phủ một lớp bụi trắng. Di ảnh xếp trên bàn thờ cũng mờ nhòe bởi mạng nhện giăng khắp nơi. Nhà tâm linh Lê Thái Bình nhìn vào bàn thờ rồi bảo: “Sắp xếp bàn thờ thế này, thì trong nhà kiểu gì cũng có người đau mắt”. Tôi lại thêm một lần nữa kinh ngạc với nhà tâm linh trẻ này, khi Tạ Thị Huệ bảo: “Đúng là mắt trái em đau, rồi mờ dần, mới phải mổ đục thủy tinh thể anh ạ”.
Nói rồi, nhà tâm linh Nguyễn Thái Bình sắp xếp lại bàn thờ, đưa bát hương, di ảnh của chồng Huệ, tức anh Nguyễn Văn Tuấn đặt lên mặt tủ. Từ hồi anh Tuấn mất, bát hương, di ảnh vẫn để dưới chiếc bàn, dưới chân tủ. Chị Huệ không dám động vào. Nhà chết hết, không ai lo lắng cho nữa. Người dân trong vùng thì sợ hãi, chẳng ai dám ghé qua nhà ông Minh. Hai mẹ con Huệ sống lủi thủi một mình trong ngôi nhà rộng rãi, mà như nhà hoang ấy. Huệ bảo: “Ngày thì em đi ra đồng mò cua bắt ốc, tối thì hai mẹ con chui vào giường ngủ. Thú thật là cũng không dám ra phòng khách anh ạ. Nhìn cái bàn thờ, toàn thấy di ảnh bố mẹ, anh em, nên sợ lắm. Em cũng không dám động vào bát hương, vì sợ động vào, nhỡ lại phạm việc gì”. Nhà tâm linh Lê Thái Bình dặn dò Huệ phải chăm sóc bàn thờ, lau dọn sạch sẽ, hương khói cho bố mẹ, chồng, anh em.
Cô gái Tạ Thị Huệ quê ở thôn Mai Trung, xã Thượng Hòa, cùng huyện Hiệp Hòa. Năm 2008, Huệ phải lòng anh chàng Nguyễn Văn Tuấn, rồi cưới nhau, về làm dâu nhà ông Minh. Hồi đó, Tuấn mới ra quân vì gây gổ đánh nhau. Huệ còn thiếu hơn tháng nữa mới tròn 18 tuổi. Nhà nghèo, Huệ chỉ học hết lớp 5. Lấy nhau, vợ chồng về ngôi nhà giữa làng ở. Hàng ngày, vợ chồng Huệ phụ giúp bố mẹ nhào đất đóng gạch, chăn bò, nuôi lợn, nuôi cá, thả vịt ở cái hồ lớn nhà ngoài. Khi đó, gia đình nhà chồng gặp vận hạn, nên làm ăn thất bát, người nào cũng ốm đau, có những biểu hiện không bình thường.
Theo lời Huệ, tháng 4 năm 2008, thì mẹ chồng qua đời không rõ là do sảy chân rơi xuống ao chết đuối, hay nhảy xuống ao tự tử. Làm tang ma xong cho mẹ, thì bố chồng, tức ông Nguyễn Văn Minh trở nên suy sụp nặng. Đôi lúc, suy nghĩ của ông không được bình thường. Điều lạ nữa, là hai chân của ông Minh cứ sưng húp lên. Mấy anh em Tuấn đưa bố đi chữa trị ở nhiều nơi, nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Mỗi bệnh viện kết luận một kiểu, nên đến bây giờ Huệ cũng không biết bố chồng mình mắc bệnh gì.
Sau khi bà Đức mất được 6 tháng, thì tai họa tiếp tục ập đến với người con trai út, là Nguyễn Văn Tú. Trong gia đình ông Minh, thời điểm đó, Nguyễn Văn Tú là người thành đạt nhất. Tú sinh năm 1983, là giáo viên, dạy học ở xã Đông Lỗ, cùng huyện, cách nhà mấy cây số. Hôm đó là 28 tết, năm 2008, buổi chiều, khi gia đình đang gói bánh chưng, thì Tú dắt xe máy đi ra ngoài. Thấy con trai dắt xe đi trong lúc cận tết, ông Minh ngăn lại. Trước đó mấy hôm, một người đã đi xem bói và thầy phán rằng, thời điểm đó gia đình dễ gặp hạn, nên đi lại phải thật cẩn thận, nếu không có việc quan trọng, thì tốt nhất ở nhà, không đi đâu cả. Ông Minh đã can ngăn con trai, nhưng Tú nhất quyết đòi đi. Hôm đó, đám bạn học phổ thông ở khắp nơi về quê, nên rủ nhau tụ tập gặp gỡ, ăn uống.
Thầy giáo Nguyễn Văn Tú vừa đi khỏi nhà được mấy chục phút, thì ông Minh nhận được tin báo Tú gặp tai nạn rất nghiêm trọng. Ông Minh và hai người con hớt hải phóng xe đến hiện trường. Nhìn con trai nằm trên vũng máu, chiếc xe máy văng xuống vệ đường, mà lòng ông tan nát. Thấy Tú vẫn còn thở, ông Minh đưa con xuống bệnh viện huyện. Các bác sĩ sơ cứu xong, thì chuyển ngay xuống Hà Nội. Thế nhưng, sau khi chiếu chụp, bác sĩ đã khuyên gia đình chuyển bệnh nhân về, vì không còn hi vọng nào cứu sống được nữa. Gia đình nuốt nước mắt đưa Tú về buổi sáng hôm sau, thì buổi chiều Tú trút hơi thở cuối cùng.
Tan tác gia đình
Cái chết của thầy giáo Nguyễn Văn Tú khiến cả nhà bấn loạn. Tú mất cách mẹ có mấy tháng trời, khiến mọi người nghĩ đến chuyện trùng tang. Ông Nguyễn Văn Minh đang từ một người khỏe mạnh, đóng gạch, làm ngói suốt ngày, suy nghĩ nhiều về cái chết của vợ, rồi rồi trở nên ốm yếu, bệnh tật, giờ bệnh lại càng nặng hơn sau cái chết đau thương của cậu con trai út, niềm hy vọng cuối cùng của ông. Và rồi, vào đầu năm 2011, ông Minh cũng đi theo vợ, con một cách bí ẩn.
Tạ Thị Huệ kể: “Từ ngày mẹ mất, rồi em chồng mất, gia đình tan tác cả, không ai còn sức lực làm gì nữa. Đi xem bói, thì thầy bói bảo gia đình phạm vào long mạch, rồi thì động vào đất của năm ông hổ, với lại ngũ hổ gì đó, nên những người đàn ông trong nhà bị bắt đi hết, không có cách nào tránh được. Vợ chồng em nghe lời thầy, hương khói ở ngôi miếu cẩn thận lắm. Vợ chồng em cũng không dám ở ngôi nhà này, mà ở nhà trong. Chỉ thi thoảng ra ngoài đó ngó xem bố và vợ chồng anh cả sống thế nào thôi. Hôm ấy, là đầu năm 2011, đang dọn cơm ăn sáng, thì ông chú chạy vào nhà thông báo bố em đã mất. Chúng em chạy ra, thì ông đã tím tái hết rồi. Ông mất từ đêm mà không ai biết. Vợ chồng anh cả ngủ ở buồng trong, mà cũng không biết bố qua đời lúc nào”.
Theo Huệ, cho đến bây giờ, mọi người vẫn không biết ông Minh chết vì bệnh gì, nguyên do thế nào. Lúc ông qua đời mới ngoài 60 tuổi một chút, nên không phải là chết già. Chiều hôm trước, ông vẫn đi chơi, vào làng bế cháu nội, là con của Tuấn với Huệ, thế mà, đêm đã nằm chết một mình.
Ngay sau cái chết bất đắc kỳ tử của ông Nguyễn Văn Minh, thì đại họa tiếp tục xảy đến với gia đình người con cả Nguyễn Văn Tình. Mặc dù không có ai mất mạng, nhưng gia đình cũng nát luôn. Anh Nguyễn Văn Tình, đang là trụ cột, là lao động chính, trực tiếp chăm sóc bố, bỗng lên cơn điên, nói năng lảm nhảm, không kiểm soát được nữa. Đêm xuống, anh này gào khóc, tru lên như sói. Người vợ sợ hãi quá, bế con bỏ đi mất. Từ bấy đến nay, chưa thấy quay lại làng, cũng không gặp lại ai trong gia đình, kể cả chị Huệ. Ngay khi vợ bỏ đi, anh Tình cũng bỏ đi mất. Chị Huệ cũng không biết anh Tình bỏ đi đâu, mấy năm không thấy về. Có người đồn là nhìn thấy anh Tình bẩn thỉu rách rưới, râu tóc xồm xoàm, nhặt rác vệ đường ăn, rồi ngủ vạ vật ở chợ. Cũng có người bảo gặp anh Tình ở trại tâm thần trên Thái Nguyên. Mặc dù nghe đồn thế, nhưng chị Huệ cũng chưa tìm lên Thái Nguyên lần nào xem cuộc sống anh chồng ra sao.
Sự việc liên tiếp ập xuống gia đình, khiến vợ chồng chị Huệ không xoay sở kịp. Những bát nhang, di ảnh đã đầy ắp ban thờ ngôi nhà tồi tàn, lúp xúp giữa làng. Ngôi nhà thoi loi ngoài đồng không còn ai ở nữa, bỏ hoang hoàn toàn. Anh Tuấn, chị Huệ chẳng bao giờ dám ra đó nữa. Vợ chồng chị cũng hy vọng rằng, không ở đó, không liên quan, thì sẽ giữ được mạng. Thế nhưng, cái kết đau lòng đã tiếp tục ập đến với gia đình này, khi Nguyễn Văn Tuấn, chồng chị Huệ bị điện giật chết.
Hôm đó, là tháng 5-2012 âm lịch, trời hè nóng như đổ lửa, mà cái quạt điện bị hỏng. Ăn cơm xong, chị Huệ bế con lên giường nằm, còn anh Tuấn ngồi ngay dưới nền nhà, cạnh giường sửa chiếc quạt điện. Chị Huệ đang ru con, thì giật mình nghe tiếng “úi giời”, rồi tiếng đổ rầm của chiếc quạt cây. Chị vùng dậy, thấy chồng đang giãy đành đạch dưới đất. Cầm vào tay chồng, chị bị điện giật co rúm người. Luống cuống, không biết phải làm gì, chị chạy sang nhà hàng xóm kêu cứu. Ông hàng xóm nghe chị Huệ kêu cứu, thì chạy ra, nhưng tìm mãi không thấy chìa khóa mở cổng. Ông này lấy thang, bắc lên tường, trèo ra ngoài, rồi lấy đòn gánh hất dây điện ra khỏi người anh Tuấn. Mọi người làm hô hấp nhân tạo, rồi múc mấy gầu nước dội lên người, nhưng anh Tuấn không tỉnh lại được nữa. Anh bị điện giật quá lâu, nên đã qua đời.
Làm ma xong cho chồng, chỉ còn mỗi mình trong ngôi nhà hoang, nghi ngút hương khói, chị Huệ sợ hãi, bế con về nhà mẹ đẻ. Thế nhưng, ở nhà mẹ đẻ được thời gian, thì lại bế con về. Toàn bộ gia đình chồng đã chết, còn một anh cả thì bị tâm thần, bỏ đi lang thang hai năm nay, không biết sống chết thế nào, không có ai nhang khói, nên chị phải ở nhà. Chị Huệ cho biết, từ bấy đến nay, chị làm gì cũng không được nữa. Cái ao rất lớn ở nhà ngoài cứ thả cá thì cá chết, nên chị cũng bỏ hoang. Ruộng lúa có đến cả mẫu, nhưng chị chỉ cấy được hai sào, còn lại cho mọi người mượn. Tuy nhiên, mùa vụ này, chị mất trắng cả hai sào lúa. Không ai hiểu vì sao, các ruộng lúa bên cạnh tốt bời bời, mà riêng ruộng lúa nhà chị Huệ thì cháy sạch, như thể có ai phun thuốc diệt cỏ cho chết cháy. Chị Huệ phải mò cua, bắt ốc kiếm miếng ăn, nuôi cậu con 4 tuổi ăn học. Cậu con trai, là niềm hi vọng cuối cùng của gia đình ông Nguyễn Văn Minh. Hàng ngày, chị thắp hương cầu nguyện những người đã khuất phù hộ cho con mình. Chị cũng đã tuyên bố trước bàn thờ và ngôi miếu, mẹ con chị không liên quan gì đến mảnh đất tang tóc, đau thương kia nữa, nên hy vọng tai họa không đổ xuống mẹ con chị.
Cre: FB PHẠM DƯƠNG NGỌC
(Ảnh: Ngôi nhà bỏ hoang ko ai dám ở, cô con dâu của gia đình; ngôi bàn thờ lạnh lẽo khói hương)
Bài viết năm 2013
Nguồn: Lê Thái Bình

Đăng nhận xét

0 Nhận xét

Đăng nhận xét (0)
3/related/default